Bí quyết học và làm bài thi môn lịch sử

    “Lịch sử như một câu chuyện dài với nhiều sự kiện, nhiều chương, hồi được liên kết logic với nhau theo trật tự thời gian và luôn có mối quan hệ nhân quả. Lịch sử đem lại cho chúng ta những suy ngẫm rất quý giá về cuộc sống. Nếu hiểu được điều ấy và biết học Sử một cách có phương pháp, các em học sinh sẽ không còn thấy đây là một môn học khô khan nữa” – TS. Nguyễn Quang Liệu (giảng viên Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV) chia sẻ suy nghĩ của mình về cách dạy và học Sử. Thầy cũng “bật mí” cho các bạn thí sinh bí quyết để học và làm bài thi môn Lịch sử một cách tốt nhất trong kì thi đại học năm nay.

Nội dung chương trình lịch sử Việt Nam lớp 12 bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất và kết thúc vào năm 2000. Nội dung chương trình lịch sử thế giới bắt đầu từ sự kiện chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945 kéo dài cho đến năm 2000. Đây là khối lượng kiến thức Lịch sử rất lớn mà các em học sinh phải nắm được trong một khoảng thời gian ôn thi rất ngắn. Vì vậy, chúng ta phải biết cách học và cách làm bài thi thì mới có kết quả tốt. Sau đây là những kinh nghiệm của cá nhân tôi rút ra sau nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử cho nhiều đối tượng học sinh, sinh viên, học viên.

Xem thêm

Chuyên đề: passive voice - thể bị động (phần 2)

CHUYÊN ĐỀ: PASSIVE VOICE (Tiếp theo)

(THỂ BỊ ĐỘNG)

PHẦN A: LÝ THUYẾT

MỘT SỐ DẠNG BỊ ĐỘNG ĐẶC BIỆT

1. Causative form: (Thể nhờ bảo): “Have” hoặc “Get”.

a. Have

* Chủ động:  S + have + O.1 (person) + bare -V + O.2 (thing)

* Bị động    :  S + have + O.2 (thing) + past participle

Ex: I had him repair the roof yesterday.

    ---- I had the roof repaired yesterday.

b. Get

* Chủ động :   S + get + O.1(person) + to- inf + O.2 ( thing)

* Bị động    :   S + get + O.2 (thing) + past participle

Ex: I will get her to cut my hair

     ---- I will get my hair cut.

2. Verbs of Opinion (Động từ chỉ quan điểm): Say, think, believe, know, report, rumour.....

Có 2 dạng bị động:

* Chủ động:    S1 + V of pinion + (that) + clause (S2+V + O)

* Bị động   :    It + be + V of opinion ( PP) + (that)  + clause.

          Hoặc:    S2 + be  + V of opinion (PP) +     to-inf

                                                                               to have + PP

Xem thêm

Chuyên đề: passive voice - thể bị động (phần 1)

PHẦN A: LÝ THUYẾT

I. Công thức chung : BE + PAST PARTICIPLE (PP = V-ed/V3)

II. Công thức của từng thì:

TENSES

ACTIVE

PASSIVE

1. The simple present

S + V(s/es)

S+ am/is/are+PP

2. The pre. Continuous

S + am/ is/ are + V-ing

S+am/is/are/+being+PP

3. The present perfect

S + have/ has + PP

S+ have/has+ been+PP

4. The simple past

S + V2/ V-ed

S+ was/were+PP

5. The past continuous

S + was/ were + V- ing

S+ was/were+being+PP

6. The past perfect

S + had + PP

S+ had+been+PP

7. The simple future

S + will/ shall + V-bare

S+ will/shall+be+PP

8. The near future

S+am/ is/are going to+ V-bare

S+am/is/are going to+be+PP

9. The Modal verbs

S + can, could, shall, should, may, might, must, have to, ought to +V-bare

S + can/could/may…..+ be + PP

III. Quy tắc chuyên sang câu bị động:

1. Xác định S, V, O ở câu chủ động.

2. Lấy tân ngữ (O) của câu chủ động về làm chủ ngữ (S) của câu bị động.

3. Xem động từ chính của câu chủ động chia ở thì nào thì chia động từ to be ở câu bị động thì đó và biến đổi động từ chính của câu chủ động về dạng quá khứ phân từ (past participle) ở câu bị động

4. Lấy chủ ngữ (S) của câu chủ động về làm bổ túc từ (O) của câu bị động và viết giới từ by ở đằng trước bổ tức từ đó.

Xem thêm

Chuyên đề nguyên hàm - tích phân (Phần 2 - bài tập)

CÁC DẠNG TOÁN THƯỜNG GẶP

Phần 1. Tìm nguyên hàm

Dạng 1: Tìm nguyên hàm dựa vào bảng nguyên hàm .

Bài 1. Tìm nguyên hàm của các hàm số

a.          b.           c. 

d.          e.           f. 

g.           h.           i. 

k.          l.          m.

n.          o.          p.

 Dạng 2. Tìm nguyên hàm bằng phương pháp đổi biến.

Tính tích phân

Phương pháp 1. Đổi biến  , rút x theo t.

+) Xác định vi phân:

+) Biểu thị  f(x)dx theo t dt. Giả sử . Khi đó

Xem thêm

Chuyên đề nguyên hàm - tích phân (Phần 1 - lý thuyết)

NGUYÊN HÀM

1) Khái niệm.

Định nghĩa. Cho hàm số xác định trên K (K  là đoạn, khoảng, nửa khoảng). Hàm số được gọi là nguyên hàm của hàm số trên K, nếu , với mọi .

Định lý. Giả sử   là một nguyên hàm của hàm số trên khoảng K. Khi đó

  1. Với mỗi hằng số C, hàm số cũng là một nguyên hàm của .
  2. Ngược lại, nếu G(x) là một nguyên hàm của thì tồn tại hằng số C sao cho G(x) = F(x) + C.
  3. Họ tất cả các nguyên hàm của , trong đó là một nguyên hàm của , C là hằng số bất kỳ.

Nguyên hàm của một số hàm số thường gặp

Nguyên hàm các hàm số sơ cấp thường gặp Nguyên hàm của hàm số hợp
() ()

; . ;
Ngoài ra còn một số công thức thường gặp là.

Xem thêm

Cách làm bài văn nghị luận xã hội

I. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí:

1. Mở bài:

- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

- Dẫn nhận định hoặc câu nói.

2. Thân bài:

* Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận.

Tùy theo yêu cầu đề bài có thể có những cách giải thích khác nhau:

- Giải thích khái niệm, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.

Giải thích nghĩa đen của từ ngữ, rồi suy luận ra nghĩa bóng, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.

- Giải thích mệnh đề, hình ảnh trong câu nói, trên cơ sở đó xác định nội dung, ý nghĩa của vấn đề mà câu nói đề cập.

 Lưu ý: Tránh sa vào cắt nghĩa từ ngữ ( theo nghĩa từ vựng).

* Phân tích và chứng minh những mặt đúng của tư tưởng, đạo lí cần bàn luận.

- Bản chất của thao tác này là giảng giải nghĩa lí của vấn đề được đặt ra để làm sáng tỏ tới cùng bản chất của vấn đề. Phần này thực chất là trả lời câu hỏi: Tại sao? (Vì sao?) Vấn đề được biểu hiện như thế nào? Có thể lấy những dẫn chứng nào làm sáng tỏ?

Xem thêm

Hoạt động ngoại khóa Văn học dân gian Việt Nam

IMG_0301

Chương trình HĐNK văn học dân gian dành cho học sinh khối 10 vào lúc 15h 30 ngày 24/10/2015 và đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ phía học sinh và quý thầy cô.

HĐNK văn học dân gian nhằm sơ kết, đánh giá lại kiến thức, chất lượng học tập của học sinh sau khi kết thúc chương trình Văn học Dân Gian. Rèn luyện cho học sinh các năng lực chung: Tự học; Giải quyết vấn đề và sáng tạo; Thẩm mỹ; Thể chất; Giao tiếp; Hợp tác;…Tạo sân chơi lành mạnh, giúp học sinh có điều kiện thể hiện tài năng, năng khiếu của mình.

Xem thêm

Sai lầm thường gặp khi giải bất phương trình

Ví dụ 1: Giải bpt:

*Sai lầm thường gặp:

*Sai lầm: Cách giải trên đã làm mất nghiệm x = 2 của bất  phương trình.

*Giải đúng:

Xem thêm

Vì sao nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa?

Khí hậu nước ta rất độc đáo: khí hậu nóng nhưng không khô hạn như Tây Nam Á, Bắc Phi. Nóng ẩm nhưng không nóng ẩm quanh năm như các quần đảo ở Đông Nam Á. Miền Bắc nước ta có mùa đông lạnh khác thường, còn miền Nam lại có mùa khô kéo dài sâu sắc. Có được những nét độc đáo đó là do:

  • Nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến nên khí hậu mang tính chất nhiệt đới.
  • Hoạt động mạnh mẽ của gió mùa, tác động của biển Đông đã mang đến cho nước ta lượng mưa và độ ẩm dồi dào.

Vì vậy nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa.

Tính chất nhiệt đới ẩm của khí hậu nước ta thể hiện:

Vị trí địa lí nước ta:

  • Điểm cực Bắc gần chí tuyến (230 23’ B).
  • Điểm cực Nam na8m22 cách xích đạo không xa (80 34’ B).
  • Nước ta nằm trọn trong vùng nhiệt đới của nữa cầu Bắc.

Do ví trí địa lí như vậy, nên bất kì nơi nào trên lãnh thổ nước ta một năm có 2 lần Mặt Trời lên thiên đỉnh, khiến cho lãnh thổ nước ta ở đâu cũng nhận được lượng nhiệt lớn. Vì thế hằng năm cả nước đều nhận được lượng bức xạ lớn, cân bằng bức xạ quanh năm dương, nhiệt độ trung bình năm cao trên 200c (trừ vùng núi cao), nhiều nắng.

Xem thêm

Chuyện học văn

Trong suốt 12 năm học, môn Văn là môn gắn bó mật thiết nhất với học sinh. Bạn yêu thích hay phải tiếp nhận học nó một cách nặng nề?

Có người tiếp nhận môn Văn như một thói quen rồi yêu thích nó, nhưng cũng có người lại chỉ xem môn Văn như trách nhiệm và đôi khi cũng là gánh nặng trong việc học hành. Chính vì thế, ngày càng nhiều trong những ngôi trường, học sinh không đam mê và yêu thích môn Văn, do đó tình trạng học lệch, học tủ trước mỗi kỳ thi luôn xảy ra.

Những phản xạ tự nhiên của con người trước một sự vật - hiện tượng thường sẽ là: Nếu cảm thấy vui thì sẽ cười và trở nên yêu thích, nếu cảm thấy buồn thì sẽ khó chịu và trở nên ghét. Thứ gì càng gắn bó lâu với con người thì sẽ có lúc trở thành thói quen và môn Ngữ Văn đối với học sinh cũng như vậy. Ngoài những học sinh hình thành thói quen đam mê và yêu thích môn Văn thì có rất nhiều học sinh lại làm ngược lại. Mấu chốt vấn đề nằm ở việc trong một thời gian dài, nếu không học tập thật nghiêm túc thì sẽ dẫn đến việc tìm cách đối phó với mỗi kỳ thi môn Ngữ Văn thay vì sẵn sàng đón nhận một cách thoải mái như nhiều môn học mà chúng ta yêu thích.

Nếu mỗi học sinh tự đặt câu hỏi rằng vì sao mình yêu thích môn này, vì sao mình luôn hứng thú với những giờ học môn kia và những kỳ thi của môn ấy thật nhẹ nhàng thì cũng sẽ tìm ra câu trả lời vì sao học sinh không đam mê và yêu thích môn Văn.

Xem thêm